Chủ nghĩa đạo đức tương đối (relativism)

     Theo thuyết đạo đức tương đối, hành vi đạo đức được định nghĩa dựa trên kinh nghiệm chủ quan của một người hay nhóm người. Những người theo triết lý đạo đức tương đối thưởng lấy bản thân mình hay những người xung quanh làm căn cứ để xác định chuẩn mực hành vi đạo đức. Họ thưởng quan sát hành vi của một nhóm người nhất định và cố xác định điều gì làm cho nhóm người đó đi đến thống nhất trong một hoàn cảnh nhất định. Một sự đồng thuận trong nhóm “mẫu” được coi là dấu hiệu của sự đúng đắn hay hợp đạo đức. Tuy nhiên, những “tiêu chuẩn đạo đức” như vậy không được coi là vĩnh cửu. Trong những hoàn cảnh khác hay khi nhóm mẫu thay đổi, hành vi trước đó được coi là chấp nhận được có thể sẽ trở thành sai trái hay vô đạo đức.

     Thuyết đạo đức tương đối nhắc nhở rằng chúng ta đang sống trong một xã hội gồm những người có nhiều quan điểm khác nhau và cách thức phán xét hành vi cũng khác nhau. Những người theo thuyết đạo đức tương đối quan sát mối tương tác giữa các thành viên của một nhóm xã hội và cố xác định những giải pháp có khả nang dựa vào sự thống nhất về quan điểm trong nhóm. Ví dụ như, khi hoạch định chiến lược và kế hoạch, những người theo triết lý đạo đức tương đối thưởng cố dự đoán những mâu thuẫn có thể nảy sinh giữa những người hữu quan, như người quản lý, chủ sở hữu, người lao động, khách hàng, người cung ứng, cộng đổng xã hội, do quan điểm và triết lý đạo đức khác nhau.

đạo đức


     Như vậy, đối với những người theo thuyết đạo đức tương đối, quy tắc hành động là do xã hội quy định. Chính những mâu thuẫn trong một nhóm xã hội đã buộc các thành viên phải tương tác, thảo luận và đi đến thống nhất về cách xử lý. Đó cũng là cách mỗi thành viên của nhóm tìm cách tự điều chỉnh, tự hoàn thiện, học hỏi và tích luỹ thêm kinh nghiêm cho bản thân. Chính sự thống nhất đã đặt ra quy tắc cho hành vi của nhóm, đồng thời nó cũng trở thành quy tắc về hành vi của những người khác dù không được thể chế hoá thành những quy tắc chính thức. Một khi các quy tắc được thừa nhận rộng rãi, trở thành phổ biến và tương đối ổn định, chúng có thể trở thành những quy tắc, chuẩn mực chính thức về hành vi đạo đức xã hội.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

Đạo đức là một phạm trù xã hội về mối quan hệ con người

       Đạo đức là một phạm trù xã hội về mối quan hệ con người. Đạo đức đề cập đến bản chất và nền tảng của mối quan hệ con người và được thể hiện thông qua cách quan niệm về cái đúng, cái sai, sự công bằng, về chuẩn mực và quy tắc ứng xử trong mối quan hệ giữa người với người và người với thế giới tự nhiên. Đạo đức chứa đựng những giá trị nhận thức của con người về giới tự nhiên và xã hội, được thể hiện qua hành vi và được xã hội nhận thức và phán xét. Quan niệm này không chỉ thể hiện ở các cá nhân với tư cách là các “nhân cách độc lập” mà còn thể hiện thông qua mối liên hệ liên – nhân cách tập thể thành “nhân cách tổ chức”. Chính vì vậy, nó ngày càng được các tổ chức, doanh nghiệp quan tâm và chú trọng phát triển.

       Hệ thống các khái niệm về đạo đức kinh doanh, gồm đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty, trách nhiệm xã hội và thương hiệu, xuất hiện ngày càng nhiều trong các triết lý, chiến lược hành động và các hoạt động tác nghiệp hàng ngày. Tuy xuất hiện ở các nước kinh tế phát triển, điển hình là ở Mỹ, vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, các khái niệm này vẫn thể hiện những ảnh hưởng của triết lý đạo đức phương Đông. Đây là một lợi thế cho các doanh nghiệp nước ta.

Đạo đức


       Vấn đề đạo đức là những hoàn cảnh, tình huống, hiện tượng trong đó một cá nhân hay tổ chức phải cân nhắc để lựa chọn giữa các cách hành động khác nhau trên cơ sỏ đúng sai, đạo đức hay vô đạo đức. Bản chất vấn đề đạo đức là do mâu thuẫn giữa các cá nhân, tập thể.

      Trong thực tế, những mâu thuẫn đạo đức trong kinh doanh thường xuất hiện chủ yếu giữa những đối tượng hữu quan chủ yếu như công ty, khách hàng, người quản lý, chủ sở hữu, người lao động, đối tác (cung ứng, đối thủ), cộng đồng và xã hội, do những biện pháp kinh doanh được áp dụng có thể gây ra những ảnh hưởng về vật chất và tinh thần không dung hoà được đối với họ.



Đọc thêm tại:

Trình tự nhận diện các vấn đề đạo đức

       Việc nhân diện vấn đề đạo đức có tầm quan trọng đặc biệt cho việc xử lý chúng. Nó là bước khởi đầu của quá trình “trị bệnh”. “Chẩn đúng bệnh, chữa sẽ dễ dàng”. Để việc nhận diện các vấn đề đạo đức được thuận lợi, có thể tiến hành theo một trình tự các bước sau đây:

       Thứ nhất là xác minh những người hữu quan. Đối tượng hữu quan cô tó ià bên trong hoặc bên ngoài, tham gia trực tiếp hay gián tiếp, lộ dỉộn tnmự các tình tiết liên quan hay tiềm ẩn. Do họ có ảnh hưởng ở mức độ khác nhau nên chỉ những đối tượng có khả năng gây ảnh hưởng quan trọng mới được xét đến. Càn khảo sát các đối tượng này về quan điểm, triết lý bởi chúng quyết định cách thức hành động, phản ứng của họ. Quan điểm và triết lý của một đối tượng, hữu quan được thể hiện qua những đánh giá của họ về việc một hành động tiềm ẩn mâu thuẫn hay chứa đựng những nhân tố phi đạo đức.

vấn đề đạo đức


         Thứ hai là xác minh mối quan tâm, mong muốn của các đối tượng hữu quan thể hiện thông qua một sự việc, tình huống cụ thể. Người quản lý có những mong muốn nhất định về hành vi và kết quả đạt được ở người lao động. Họ sử dụng những biện pháp tổ chức (cơ cấu quyền lực) và kỹ thuật (công nghệ) để hậu thuẫn cho người lao động trong việc thực hiện những mong muốn cua họ trong một công việc, hoạt đọng, chương trình cụ thể. Ngược lại, ngựởi lao động cũng có những kỳ vọng nhất định ở người quản lý. Những kỳ vong nạy có thể ỉa định hình nhưng quy tắc hành động, chuẩn mực hành vi cho việc ra quyết định tác nghiệp, lợi ích riêng được thoả mãn (hoại bão, cơ hội nghề nghiệp, sự tòn trọng, việc làm, thu nhập). Tương tự, người chủ sở hữu cùng đặt những kỳ vọng nhất định ơ người quản lý (thường là các vấn đề về chiến lược, hoài bão lâu dài), trong khi người quản ly cũng co những mong muốn cần thoả mãn khi nhận trách nhiẹm được uỷ thác (danh tiếng, quyền lực, cợ hội thể hiện, thu nhập). Như vậy, mỗi đối tượng có thể có những mối quạn tâm và mong muốn hay kỳ vọng nhất định ở những đối tượng liên quan khác trong cùng một sự việc. Khi mối quan tâm và mong muốn của các đối tượng nhau không mầu thuẫn hoặc xung đột, cơ hội để nảy sinh vấn đề đạo đứclà hầu như không có. Ngược lại, nếu mối quan tâm và mong muốn ở nhau không thể hài hoà, vấn đề đạo đức sẽ nảy sinh. Cần lưu ý, các đôi tượng cũng có thế tự – mâu thuẫn nểu các mối quan tậm vằ mong muốn là khỏng thống nhất hay không thể dung hoà được với nhaụ.

        Thứ ba là xác định bản chất vấn dề đạo đức. Việc xác định bản chất vấn đề đạo đức có thể thực hiện thông qua việc chỉ ra bản chất mâu thuẫn. Do mâu thuẫn có thế thể hiện trên nhiều phương diện khác nhau như quan điểm, triết lý, mục tiêu, lợi ích, việc chỉ ra bản chất mâu thuẫn chỉ có thể thực hiện được sau khi xác minh mối quan hệ giữa những biểu hiện này. 



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh

Nhận diện các vấn đề đạo đức

       Vấn đề đạo đức tiềm ẩn trong mọi khía cạnh, lĩnh vực của hoạt động quản lý và kinh doanh. Chúng là nguồn gốc dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng đối với uy tín, sự tổn tại và phát triển của một tổ chức, công ty. Vì vậy, nhận ra được những vấn đề đạo đức tiềm ẩn có ý nghĩa rất quan trọng để ra quyết định đúng đắn, hợp đạo lý trong quản lý và kinh doanh. Các tổ chức, công ty cắng ngày càng nhận rõ vai trò và coi trọng việc xây dựng hình ảnh của tổ chức, công ty trong con mắt xã hội. Để xây dựng “nhân cách” công ty, các quyết định có ý thức đạo đức đóng vai trò quyết định.

nhân cách công ty


       Việc nhận diện vấn đề đạo đức phụ thuộc rất nhiều vào mức độ hiểu biết sâu sắc về mối quan hệ giữa các tác nhân (phương diện, lĩnh vực, nhân tố, đối tượng hữu quan liên quan đến các vấn đề đạo đức trong một tình huống, hoạt động kinh doanh thực tiễn. Kiến thức và kinh nghiệm thực tế có tác dụng giúp người phân tích dễ dàng nhận rơ bản chất của những mối quan hệ cơ bản và những mâu thuần tiềm ẩn trong sự nhằng nhịt của các mối quan hệ phức tạp.

       Cách phân loại các mối quan hệ có thể giúp ích cho việc xác minh về bản chất mối quan hệ và ví dụ tổng hợp vẻ nguồn gốc của những mâu thuẫn tiềm tàng trong hoạt động kinh doanh giữa các đối tượng hữu quan khác nhau.



Quy định về quảng cáo đối với sản phẩm thay thế sữa mẹ

        Ngày 11/3/2004, tại TP HCM, Bộ Y tế đã tổ chức hội nghị đánh giá 3 năm thực hiện Nghị định số 74/2000/NĐ-CP của Chính phủ về kinh doanh và sử dụng các sản phẩm thay thế sữa mẹ để bảo vệ và khuyến khích việc nuôi con bằng sữa mẹ. Tại hội nghị, nhiều đại biểu đã đóng góp ý kiến để sửa đổi, bổ sung một số điều khoản của Nghị định 74 nhằm “bít” những kẽ hở thời gian qua bị nhiều đơn vị sản xuất, kinh doanh các sản phẩm sữa lợi dụng để quảng cáo vượt quá giới hạn cho phép.

         Phó vụ trường Vụ Pháp chế (Bộ Y tể) nhận định: “Một mặt vì cạnh tranh dể kiếm lởi, mặt khác do quy định của chúng ta chưa chặt chẽ, nhiều hãng sữa đã quảng cáo đánh bóng các sản phẩm sữa, gây ngộ nhận cho các bà mẹ, vi phạm quy định về nhãn mác… Chẳng hạn không được quang cáo cho trẻ dưới 6 tháng tuổi, song tình trạng này vẫn còn đầy rẫy, thậm chí hình trẻ dưới 6 tháng tuổi còn được in chung với trẻ lớn trên cùng một nhãn sữa. Quy định bắt buộc phải ghi trên sản phẩm dòng chữ Sữa mẹ là tốt nhất nhưng nhiều nhãn sữa không in hoặc in rất nhỏ ở phần cuối nhãn.

sữa mẹ


         Các hiện tượng bị coi là vi phạm quy định pháp luật Việt nam và quốc tế bao gồm không đăng ký chất lượng sản phẩm, hàm lượng ghi trên nhãn không đúng hàm lượng thực, thông tin sai (sản phẩm suy nhất có DHA, sữa sơ sinh duy nhất…) vi phạm quy định quảng cáo (rất giống sữa mẹ, có công thức gần như sữa mẹ…), mua chuộc dụ dỗ các bác sĩ, bệnh viện thiếu y đức sử dụng các sản phẩm này cho bệnh nhân. Những vi phạm này không chỉ thể hiện thái độ vô trách nhiệm đối với xãhội mà còn thê hiện tính chất vô nhân đạo do đây là các sản phẩm được sử dụng để hỗ trợ những phụ nữ thiếu khả năng nuôi con bằng sữa mẹ và cho trẻ sơ sinh.

         Theo dự thao sửa đổi, bổ sung Nghị định 67, hành vi quảng cáo, khuyến khích sử đụng sản phẩm sữa thay thế sữa mẹ cho trẻ sơ sinh từ khi sinh cho đến 12 tháng tuổi sẽ bị nghiêm cấm (trước đây chỉ đến 6 tháng tuổi); trên nhãn của sản phẩm sữa không được có ngôn ngữ hay hình ảnh có nội dung sản phẩm thay thế sữa mẹ, hoặc tốt hơn sữa mẹ, so sánh với sữa mẹ…



Thế nào là “Sản xuất sạch”

       “Sản xuất sạch” có nghĩa là tránh ô nhiễm bằng cách sử dụng tài nguyên và nguyên vật liệu một cách hiệu quả nhất, từ đó tránh được hay giảm thiểu các ô nhiễm trước khi chúng sinh ra. Lợi ích của sản xuất sạch đối với một doanh nghiệp có thể gói gọn trong một số điểm: (i) nâng cao hiệu suất sản xuất, (ii) tận thu được sản phẩm phụ có giá trị, (iii) ít ô nhiễm, (iv) giảm chi phí chất thải cũng như để xử lý chất thải, (v) cải thiện hình ảnh của doanh nghiệp, (iv) cải thiện sức khoẻ và tình trạng an toàn nghề nghiệp cho người lao động.


  1. Tránh các rò rỉ, rơi vãi trong quá trình vận chuyển và sản xuất (kiểm soát nội vi).

  2. Đảm bảo các điều kiện sản xuất tối ưu theo quan điểm quản lý chất lượng đối với sản phẩm, sản lượng, tiêu thụ tài nguyên và lượng chất thải phải xử lý.

  3. Thay thế việc sử dụng các nguyên liệu độc hại bằng các nguyên liệu ít phải xử lý hơn.

4. Cải tiến thiết bị để nông cao hiệu suất, giảm lãng phí, hoàn thiên quá trình sản xuất.

5. Sử dụng các thiết bị có hiệu quả hơn.

 6.Thiết kế lại sản phẩm để giảm thiểu lượng tài nguyên tiêu thụ.

Sản xuất sạch


        Các chuyên giả trong lĩnh vực sản xuất sạch hơn đã rút ra kết luận rằng, hầu hết các doanh nghiệp đều có khả năng giảm lượng tài nguyên tiêu thụ từ 10 -15% mầ không cần đầu tư lớn. Và hầu hết các giải pháp sản xuất sạch hơn đều có thời gian hoàn vốn dưới 1 năm.

        Đầu tư 100 triệu đồng tiết kiệm được 1,023 tỷ đồng. Cơ sở nhuộm Nhất Trí, một doanh nghiệp tư nhân tại TP HCM, dã đầụ tư một hệ thống máy nhuộm thế hệ mới vào năm 1997. Đến năm 2000 cơ $ở đã đầu tư thệm các thiết bị để nâng cấp những công đoạn có thể gây lãng phí, như máy thử mẫu nhuộm, máy đo độ pH, cân điện tử… và tiến hành giám sát chặt quá trình xồ lý sản phẩm. Nhờ vậy, xí nghiệp đã giảm tỷ lệ sản phẩm cần phải nhuộm xuống còn 1%. Việc thay đổi hoá chất nhuộm có nồng độ phù hợp hơn, cũng như việc áp dụng những giai pháp sản xuất sạch đã tăng được năng suất lên 1,17 lần, giảm lượng thuốc nhuộm xuống còn 1/3 và năng lượng tiêu hao chỉ còn 85%; Tổng cộng việc thực hiện các biện pháp sản xuất sạch đã giúp cơ sở tiết kiệm được 1,023 tỷ đồng/năm; hàm lượng chất thải trong nước thải và khí thải ra môi trường giảm hẳn.




Đọc thêm tại:

Sự can thiệp của chính phủ đến các họat động kinh doanh

       Khác với các đối tượng hữu quan khác, chính phủ là một đối tượng trung gian và không có lọi ích cụ thể, trực tiếp trong các quyết định và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Chính vì vậy, các cơ quan có thẩm quyền của chính quyền chỉ can thiệp khi cần thiết và để đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho môi số hoặc tất cả các đối tượng hữu quan. Do là một cơ quan quyền lực đại diện cho hệ thống pháp luật và lọi ích của tất cả các đối tượng khác nhau trong xã hội, “lợi ích” của chính phủ không thể đo bằng lợi ích thông thưởng của một doanh nghiệp hay một đối tượng xã hội cụ thể, mà là sự bình đẳng, trung thực, công bằng, công lý, và sự phát triển bền vững của môi trường kinh tế – văn hoá – xã hội – tự nhiên.

        Sự can thiệp của chính phủ đến các họat động kinh doanh thưởng gián tiếp hoặc “muộn màng”. Việc chính phủ không phải là một “chủ thể kinh tế vi mô“ nói trên lànguyên nhân chính. Sự can thiệp của chính phủ là xảy ra trường hợp có nảy sinh mâu thuẫn không tự giải quyết được giữa các “chủ thể kinh tế vi mô“ như người tiêu dùng với doanh nghiệp, giữa doanh nghiệp với nhau, hay giữa người tiêu dùng với nhau, giữa ngắn hạn và dài hạn, giữa cục bộ và tổng thể. Đáng lưu ý, quyền lực can thiệp của chính phủ là rất lớn vì vậy, hiệu lực can thiệp đối với doanh nghiệp cũng rất lớn.

Sự can thiệp


        Đòi hỏi từ phía chính phủ đối với các doanh nghiệp là sự tên trọng pháp luật và việc thực hiện các nghĩa vụ và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Hơn thế nữa, chính phủ luôn kỳ vọng ở các doanh nghiệp, với tư cách là một lực lượng tiên tiến của nền kinh tế, thực hiện vai trò tiên phong và đóng góp tích cực tự nguyện cho sự phát triển kinh tế – xã hội lâu dài và bền vững của nền kinh tế. Các chính phủ luôn coi các doanh nghiệp là lực lượng chủ lực vàlà chỗ dựa để phát triển nền kinh tế; các chính phủ khổng muốn coi các doanh nghiệp là đối tượng phải giám sát và xử lý về những vi phạm. Khi buộc phải làm vậy, quyền lực sẽ được thực thi; lợi ích công ty sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

Cạnh tranh được coi là nhân tố thị trường tích cực?

        Nói chung, ngành càng phát triển, mọi doanh nghiệp, tổ chức, công ty; trong ngành đều có lợi. Vị thế của ngành càng tốt, tầm quan trọng của ngành càng lớn, các công ty trong ngành càng có nhiều thuận lợi trong việc triển khai các hoạt động kinh doanh do họ có “sức mạnh thị trường” (bargaining povver). Sự phát triển của ngành là nhờ sự đóng góp của các thành viên và sự liênkết chặt chẽ giữa họ. Một nhân tố quan trọng tạo nên sự liên kết này là sức hấp dẫn của lợi nhuận cao, thông tin thị trường tốt hơn, cơ hội “liên minh phi chính thức”. Tuy nhiên, sự liên kết và tập trung hoá sẽ làm tăng mật độ, tăng cơ hội tiếp cận cho khách hàng, cạnh tranh tăng lên, nguy cơ và rủi ro về lợi nhuận và thị trường tăng lên.


nhân tố thị trường


      Cạnh tranh được coi là nhân tố thị trường tích cực. Cạnh tranh thúc đẩy các doanh nghiệp phải cố vượt lên trên đối thủ và lên chính bản thân mình. Cạnh tranh là thi đua, ganh đua.(Competitiontrong tiếng Anh đều có nghĩa là cạnh tranh, thi đua, ganh đua, thi đấu.) Đối với nhiều doanh nghiệp, cồng ty, kết quả của cạnh tranh thành công được thể hiện bằng lợi nhuận, thị phần. Lợi nhuận cao, thị phần lớn là mong muốn của họ. Tuy nhiên, lợi nhuận và thị phần có thể đạt được bằng nhiều cách trong đó có cả các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh, không được các công ty trong ngành và xã hội chấp nhận.

       Khi đó, kết quả đạt được về lợi nhuận và thị phần không còn mang ý nghĩa tích cực của cạnh tranh mà chỉ thể hiện những tính toán ích kỷ, thiển cận trong các quyết định kinh doanh của doanh nghiệp. Thành công của doanh nghiệp không phải chỉ thể hiện bằng lợi nhuận và thị phần ngắn hạn, mà còn ở hình ảnh doanh nghiệp tạo nên trong mắt của những người hữu quan và xã hội. Biện pháp cạnh tranh chính là “hành vi” của doanh nghiệp trong việc hình thành hình ảnh và “nhân cách” cho mình. Do tính tích cực của cạnh tranh thể hiện qua sự trung thực trong cạnh tranh được pháp luật bảo vê, các biện pháp cạnh tranh không lành mạnh luôn có nguy cơ phải đương đầu với sự phán xét của hệ thống giá trị xã hội và pháp lý.

       Như vậy, giữa các đối thủ cạnh tranh luôn tồn tại những mâu thuẫn. Mâu thuẫn giữa họ và mâu thuẫn nội tại trong chính bản thân họ (tự mâu thuẫn) giữa lợi ích của việc liên kết và cạnh tranh, giữa lợi nhuận, thị phần và sự phát triển lâu dài.



Hợp tác và cạnh tranh trong khối OPEC

         OPEC là tên gọi của Tổ chức các nước xuất khẩu dầu mỏ (Organization of Petroleum Exporting Countries). Đây là hiệp hội do các nước sản xuất đầu mỏ chính, chủ yếu nằm ở khu vực Trung Cận Đông, lập ra nhằm tìm cách khống chế giá dầu thô bằng cách định ra hạn ngạch khai thác và xuất khẩu dầu ra thị trường thế giới (chủ yếu là các nước công nghiệp phát triển) cho từng nước thành viên.

        Điều đó có nghĩa là hàng ngày mỗi nước thành viên chỉ được phép khai thác và bán ra một lượng dầu thô nhất định để đảm bảo lượng dầu cung ứng của toàn khối trên thị trường thế giới cân bằng với nhu cầu từ phía các nước nhập khẩu ở một mức giá cao đã định. Giá độc quyển (độc quyền tập đoàn, cartel) mang lại lợi nhuận độc quyền cho toàn khối, nên các nước thành viên rất ủng hộ.


khối OPEC


       Tuy nhiên, phân chia lợi nhuận lại là một vấn đề không dễ giải quyết. Việc phân chia lợi nhuận được tiến hành thông qua việc phân chia “thị phần” bằng khối lượng từng nước thành viên được phép khai thác do hiệp hội quy định. Lợi nhuận của mỗi nước đạt được qua giá bán chung và giá thành riêng của từng nước. Tuy nhiên, do vị thế trong cộng đồng quốc tế của mỗi nước là khác nhau, trên cơ sở bình dẳng, đưởng lối chính trị, ngoại giao, thương mại quốc tế của mỗi nước, mỗi quốc gia đều có chính sách và quan hệ quốc tế riêng. Việc tuân thủ các quy định chặt chẽ của hiệp hội có thể gây thiệt hại đến lợi ích quốc gia của mỗi nước về phương diện nào đó. Vì vậy, OPEC thưởng xuyên phải nhóm họp để thảo luận vé những vấn đề không mới nhưng luôn tiểm ẩn những mâu thuẫn giữa các nước và tìm cách đạt được thoả hiệp nhằm ngăn chặn chúng.                                                  

        Hợp tác và cạnh tranh luôn là xu thế trong kinh doanh, khổng chỉ ở quy mô lớn như khối OPEC, mà hiện hữu ngay cả trong những công việc kinh doanh ở quy mô rất nhỏ. Có thể quan sát thấy điều đó thông qua xu thế hình thành nhũng khu vực kinh doanh tập trung như các hệ kinh doanh giày dép phổ thông ở quanh khu phố Hàng Dầu, hàng tơ lụa ở phố Hàng Bông, Hàng Gai, tin học và máy tính ở phố Lý Nam Đế, Hà Nội. Họ tập trung lại với nhau vì sức hấp dẫn của sự liên kết, nhưng cũng phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển.



Từ khóa tìm kiếm nhiều: dao duc kinh doanh, van hoa cong ty

Dấu ấn về hình ảnh nhãn hiệu hàng hóa

       Sau thế chiến thứ 2, nền kinh tế Nhật Bản bị suy sụp, đất nước bị tàn phá và rơi vào tình trạng rất khó khăn của một nước bại trận. Để phục hồi nền kinh tế, một trong nhũng chính sách của Nhật Bản để nhanh chóng phục hồi nền công nghiệp là tăng cường phát triển công nghệ ứng dụng, hạn chế phát triển nghiên cứu cơ bản. Kết quả là hàng hoá của Nhật Bản dược sản xuất tương đương với hàng hoạ của các nước khác nhưng giá thành rất thấp.

       Để tăng nguồn ngân sách và phát triển ngoại thương, hàng hóa của Nhật được xuất khẩu sang Mỹ. Chiến lược của các cồng ty Nhật khi đó là “tiếp cận vào phía đầu dưới của “tuyến” sản phẩm”. Hàng hoá được chào bán vớigiá rẻ nhằm vào thị trường đại trà, bình dân. Sau gần nửa thế kỷ và khi đã trở thành nền kinh tế mạnh thứ hai trên thế giới, hàng hoá của Nhật Bản vẫn chi được coi là “hàng hoá bình dân chất lượng cao” trong con mắt người tiêu dùng Mỹ,

cồng ty Nhật


      Trung Quốc la một quốc gia nổi tiếng về lịch sử và truyền thống sản xuất hàng tình xảo rất lâu đời. Danh tiếng này được khẳng định trong lĩnh vực sản xuất công nghệ phẩm. Vào những năm 70 của thế kỷ trước, hàng hoá của Trung Quốc trên thị trường Việt Nam và quốc tế được đánh giá rất cao về chất lượng, hình thức, mẫu mã. Đôi khi người tiêu dùng Việt Nam còn đánh giá hàng công nghệ phẩm sản xuất tại Trung Quốc cao hơn so với sản phẩm cùng loại của nhiều nước châu Âu.

      Tuy nhiên, chỉ trong vòng 10 năm cuối thế kỷ XX, hàng Trung Quốc đã nhanh chóng đánh mất uy tín thương hiệu truyền thống của mình. Ngày nay “hàng Trung Quốc” đối với nhiều ngươi đồng nghĩa với loại “hàng hoá thứ cấp”.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

Trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với khách hàng

    Không có tổ chức, công ty nào có thể tồn tại được nếu thiếu đối tượng phục vụ, khách hàng. Khách hàng chính là người thể hiện nhu cầu, sử dụng hàng hoá, dịch vụ, đánh giá chất lượng, tái tạo và phát triển nguồn tài chính cho tổ chức, công ty. Họ có thể lầ những cá nhân, tổ chức tiêu dùng các hàng hoá, dịch vụ thông tin thị trường, họ cũng có thể là những khách hàng đặc biệt đối với những hàng hoá đặc biệt (hàng hoá công cộng, đường sá, công trình văn hoá, giáo dục, y tế, an ninh, quốc phòng, viễn thông…) như xã hội, chính phủ, tổ chức, công ty khác.

    Việc tiêu dùng sản phẩm và dịch vụ của một tổ chức hay công ty là nhằm thoả mãn nhu cầu tâm sinh lý của họ, nhằm cải thiện cuộc sống cá nhân vì xã hội của họ.

    Mọi vấn đề dạo đức điển hình liên quan đến người tiêu dùng là an toàn sản phẩm. An toàn sản phẩm liên quan đến vệ sinh thực phẩm. Thực phẩm được làm ra là để tái tạo, duy trì và làm tăng thêm sức khoẻ cho con người. Các nhà sản xuất thu được lợi nhuận từ việc cung cấp thực phẩm cho người tiêu dùng là do đã thoả mãn nhu cầu thưởng thức của họ. Theo quan niệm trong quản lý hiện đại, “lợi nhuận chính là phần thưởng người tiêu dùng trao cho công ty để trả ơn vì thành tích phục vụ xuất sắc”.

Trách nhiệm của các doanh nghiệp


    Người tiêu dùng sẽ không thể cảm ơn những người sản xuất đã cung cấp thứ thực phẩm gây hại cho sức khoẻ, thậm chí có thể giết chết họ. Lợi nhuận thu được là vô đạo đức, thậm chí phi pháp, và mang tính chất lừa gạt. An toàn sản phẩm còn liên quan đến những rủi ro tiềm ẩn do những khiếm khuyết của sản phẩm. Khiếm khuyết có thể lạ do thiết kế sai, công nghệ sản xuất không hoàn thiện, người lao động cẩu thả, người quản lý vô trách nhiệm, thậm chí chỉ vì tiết kiệm nguyên liệu hay chi phí sản xuất. Những sản phẩm khiếm khuyết tiềm ẩn những tai nạn, rủi ro bất ngờ không thể đề phòng và chống đỡ đối với người sử dụng. Tính chất vô đạo đức thể hiẹn ở việc người sản xuất đã khêng có những hành động cần thiết ngay cả khi có khả năng và năng lực chuyên môn để ngăn chặn hoặc giúp người tiêu dùng đề phòng, hạn chế, loại trừ tai nạn, rủi ro. Họ thu lợi nhuận trong khi gây ra tai nạn hay thiệt hại cho người tiêu dùng. Việc kinh doanh những sản phẩm như vậy không chì gảy ra những thiệt hại về doanh số trước mắt mà còn gây khó khăn về lâu dài, do làm mất đi sự tin cậy và lòng trung thành của khách hàng đối với sản phẩm yà công ty, tạo nên ấn tượng và hình ảnh bất lợi cho công ty.

    Trách nhiệm của các doanh nghiệp đối với khách hàng của mình là phát hiện nhu cầu, làm ra những sản phẩm, dịch vụ có thể thoả mãn nhu cầu của họ. Viẹc cung cấp hàng hoá, dịch vụ không phải chỉ để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng tức thởi, mà còn cần tính đến ước muốn lâu dài của khách hàng. Vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ việc không cân đối giữa nhu cầu trước mắt và nhu cầu ỉâu dài. Người tiêu dùng mong muốn có nguồn năng lượng rẻ và dổi dào cho việc thắp sáng, vận hành phương tiện giao thông và sản xuất. Nhưng họ khỏng muốn các nhà máy điện thải ra các chất gây ổ nhiễm phá huỷ cảnh quan, môi trường sinh thái quanh nơi họ sống hoặc gây ra bệnh tật đối với họ và dân chúng quanh vùng.

     Họ cũng muốn có nguồn thực phẩm phong phú, ngon và rẻ, nhưng không muốn nhìn thấy động vật hoang dã bị giết hại hay việc khai thác nguồn thuỷ sản dại trà, ồ ạt, bừa bẩi đến cạn kiệt như hiện nay. Họ cũng không muốn. bị mắc những chứng bệnh nan y trong tương lai chỉ vì ham muốn tiêu dùng nguồn thực phẩm dồi dào và rẻ do những thành công trong việc áp dụng công nghệ biến đổi “gien”. Nhiều tổ chức của quần chúng, phi chính phủ và của chính phủ đã được thành lập để đấu tranh với nhồng hành vi tiêu dùng và sản xuất phi đạo đức, vì lợi ích trước mắt và có thể gây thiệt hại cho lợi ích xã hội lâu dài.




Đọc thêm tại:

Vấn đề đạo đức liên quan đến người lao động

    Jeffrey Wigand, một quan chức cũ của công ty Brown & Williamson Tobacco Corporationvà là tiến sĩ sinh hoá chuyên nghiên cứu về hoóc môn, đã đề xuất với công ty một phương án sản xuất thuốc lá an toàn hơn. Nhưng công ty đã không chấp thuận phương án của ông và thậm chí còn cắt mọi khoản kinh phí hỗ trợ cho công trình nghiên cứu của ông.

      Khi ông tố cáo công ty đã che giấu những thông tin liên quan đến tác hại của thuốc lá đối với sức khoẻ con người, ông bị sa thải. Tuy nhiên, lời tố cáo của Wigand đã dẫn đến những công trình nghiên cứu và những vụ kiện ở quy mô lớn kéo dài, dẫn đến việc các cõng ty thuốc lá đã phải bồi thưởng hàng trăm tỷ đô la (203 tỷ năm 2001,280 tỷ năm 2004).

người lao động


     Tổng giá trị hàng hoá thất thoát do bị nhân viên tư túi ở các cửa hàng bách hoá ở My tăng 34% trong ba năm qua và ở mức 12,85 tỷ đô la mỗi năm. Thiệt hại trung bình cho các chủ cửa hàng do bị mất cắp hàng.hoá là khoảng 158,86 đô la cho mỗi vụ việc; trong đó thiệt hại do nhân viên lấy cắp là 1.004,35 đô la mỗi vụ. Các chủ cưa hàng đã đặt camera ở các gian hàng, phòng thử đổ và quầy trả tiền để theo dõi khách hàng và cả nhân viên. Đổ hạn chế tình trạng này, một số công ty ở Mỹ đã cung cấp dịch vụ xác minh nhân thân của nhân viên bán hàng. Họ đã lưu giữ số liệu của 750.000 nhân viên trên phạm vi toàn liên bang (Mỹ). Chi phí mỗi lần xác minh là từ 2 đến 4 đô la. Tuy nhiên, việc giữ bí mật thông tin cá nhân lại trở thành một thách thức khác.

      Để khuyến khích và tạo điểu kiện cho nhân viên phát triển năng lực chuyên môn và sáng tạo, nhiều công ty cho phép nhân viên có thể tiếp cận các nguồn lực và sử dụng những phương tiện, thiết bị, nguyên liệu, phòng thí nghiệm của công ty vào các công việc nghiên cứu riêng, những đóng góp của nhân viên từ những phát minh, sáng chế đối với công ty là rất lớn.

     Tuy nhiên, nhân viên cũng có thể lạm dụng sự trợ giúp này hoặc thậm chí ngay cả khi không được phép để mưu lợi cá nhân. Điện thoại và các phương tiện thông tin điện tử là những nguồn lực hay bị lợi dụng nhất. Để tăng cường việc giám sát đối với nhân viên, nhiều công ty đã thiết kế nơi làm việc theo cách người quản lý có thể theo dõi mọi hành vi của người lao động ở nơi làm việc. Với sự hỗ trợ của các phương tiện và thiết bị điện tử hiện đại, việc giám sát càng trở nên dễ dàng. Việc giám sát được coi là chính đáng do có tác dụng hỗ trợ việc phối hợp để nâng cao hiệu quả sản xuất và ngăn chặn rủi ro. Tuy nhiên, chúng lại bị coi là vô đạo đức vì vi phạm quyền riêng tư của con người, dẫn đến những áp lực tâm lý có thể làm giảm năng suất và gây tai nạn nhiều hơn.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa kinh doanh

Trách nhiệm bảo vệ môi trường của các công ty

   Công ty Weyerhaeuserđã được trao Phần thưởng vì Sự nghiệp Năng lượng và Môi trường của Hiệp hội Rừng & Giấy (Mỹ) về thành tích chống ô nhiễm. Một nhà máy bột giấy của công ty ở bang Georgia đã giảm được 41% chất thải rắn, 32% chất thải lỏng, 13% chất thải khí.

    Lousiana-Pacific, nhà sản xuất tấm lát hè kẻ giả gỗ lớn nhất của Mỹ, đã phải nộp 5,5 triệu đô la tiền phạt theo Luật Không khí sạch do một nhà máy của công ty ở Colorado đã xả khí thải có nồng độ chất thải độc hại cao hơn mức cho phép. Công ty còn phải nộp thêm 31 triệu đô la tiền phạt vì tội nói dối, làm sai lệch chứng từ và chỉnh sai thiết bị đo.

     Với tư cách người chủ một tổ chức, một doanh nghiệp, chu sở hữu cũng phải gánh chịu những trách nhiệm về mặt kinh tế, pháp lý, đạo đức và nhân văn đối với xã hội.

    Người lao động là những người thực hiện các nhiệm vụ tác nghiệp của một công việc kinh doanh. Họ phải ra các quyết định liên quan đến các nhiệm vụ được giao. Vì vậy, họ là người có quyết định cuối cùng trong việc thi hành một quyết định liên quan đến đạo đức của người quản lý. Nhận thức và năng lực của người lao động, quan điểm đạo đức của họ đóng vai trò quan trọng. Một quyết định có thể không được thi hành nếu bị coi là phi đạo đức. Ngược lại, một quyết định đúng đắn có thể không được thực hiện như mong muốn do ý thức đạo đức sai lầm của người thực hiện. Sự khác biệt về nhận thức và quan điểm đạo đức giữa người quản lý và người lao động cũng có thể là nguyên nhân của những hậu quả sai lầm về đạo đức. Những vấn đề đạo đức liên quan đến người lao động bao gồm những trường hợp điển hình như cáo giác, quyền sở hữu trí tuệ và bí mật thương mại, điều kiện và môi trường lao động, lạm dụng của công.

bảo vệ môi trường


    Rất nhiều người lãnh đạo không muốn cấp dưới của mình tiết lộ những thông tin nội bộ của công ty. Những thông tin đó có thể là những chứng cứ về những hành vi hay quyết định phi – đạo đức hoặc không được xã hội mong muốn, và khi nhân viên cáo giác có thể làm tổn hại đến uy tín và quyền lực quản lý của họ và của công ty.

    Việc tiết lộ thông tin hay bí mật thương mại có thể dẫn đến hậu quả làm mất lợi thế cạnh tranh trong kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, việc ngăn cản nhân viên sử dụng kiến thức, kinh nghiệm tích luỹ và sản phẩm do họ sáng tạo vào công việc mới có thể là vi phạm quyền tự do và quyền sở hữu trí tuệ.

Cắt giảm chi phí là một trong những mục tiêu tác nghiệp của công ty. Nó mang lại lợi ích không chỉ cho công ty, cho người lao động do tính hiệu quả cao mà còn cho người tiêu dùng nhở giá thành thấp. Tuy nhiên, chi phí giảm có thể là do cắt giảm các chi tiêu cho phương tiện bảo hệ lao động và các khoản bảo hiểm đối với người lao động. Việc trừng phạt, thậm chí sa thải người lao động từ chối những công việc nguy hiểm vì lý do bệnh lý được coi là phi đạo đức.

Ngược lại, người lao động lợi dụng lý do này để từ chối thực hiện những công việc khồng muốn làm cũng bị coi là vị phạm quy tắc đạo đức kinh doanh.



Chủ sở hữu

     Chủ sở hữu đối với các tổ chức là những cá nhân, nhóm cá nhân hay tổ chức đóng góp một phần hay toàn bộ nguồn lực vật chất hay tài chính cần thiết cho các hoạt động của một tổ chức và có quyển kiểm soát nhất định đối với tài sản hay hoạt đông của tổ chức thông qua giá trị đóng góp. Chủ sở hữu có thể là các cổ đông của một công ty TNHH, công ty cổ phần, là nhà nước đối với tổ chức của nhà nước và DNNN, là các ngân hàng hay chủ đầu tư.

Những người chủ sở hữu các nguồn lực sẵn sàng đóng góp hay cống hiến cho một tổ chức, công ty là vì bị thuyết phục hoặc hấp dẫn bởi những hoài bão và mục tiêu cao cả một tổ chức, công ty đã đề ra. Việc uỷ thác nguồn lực và tài sản của họ thể hiện sự đồng cảm với hoài bão và mục tiêu của tổ chức, mong muốn thực hiện được những nghĩa vụ nhất định đối với xã hội. Thông qua các hoạt động kinh doanh của một tổ chức, công ty, họ cũng hy vọng lợi ích của họ được bảo toàn và phát triển.


Chủ sở hữu


Chủsở hữu là những người đầu tiên đóng góp nguồn lực cho tổ chức, doanh nghiệp. Nguồn lực đóng góp thưởng là tài chính và vật chất, như tiền vốn, túi dụng, hạ tầng cơ sở, phương tiện sản xuất… cần thiết cho việc triển khai một hoạt động sản xuất hay kinh doanh. Tài sản đóng góp của họ cũng có thể là kỹ năng hay sức lao động.

Họ có thể là những người trực tiếp tham gia điều hành công việc sản xuất, để thực thi quyền lực kiểm soát của mình và đảm bảo quyền lợi gắn với giá trị tài sản đóng góp. Nhưng họ cũng có thể giao quyền điều hành trực tiếp cho những người quản lý chuyên nghiệp được họ tuyển dụng và tin cậy trao quyền đại diện, và giữ lại quyền lực kiểm soát.

Lợi ích của chủ sở hữu về cơ bản là bảo toàn và phát triển giá trị tài sản. Mặc dù vậy, nhiều chủ sở hữu, đặc biệt những người có phần tài sản đóng góp lớn và đầu tiên (cổ đông chính hay cổ đông sáng lập), dù là cá nhân hay tập thể, còn nhìn thấy lợi ích của họ ẩn trong hoài bão và mục tiêu mà tổ chức, cồng ty đã nêu ra. Những lợi ích này thưởng là những giá trị tinh thần mang tính xã hội vượt ra ngoài khuôn khổ lợi ích cụ thể của một cá nhân. Nguồn lực được họ đóng góp vừa để phát triển để bảo vệ nhũng giá trị này. Ngày nay, ngay cả nhũng cổ đông nhỏ, phổ thông cũng thưởng căn cứ vào những hoài bão và mục tiêu nêu trong tuyên bố về sứ mệnh của một tổ chức, công ty khi lựa chọn nơi để đầu tư.



Những mâu thuẫn trong doanh nghiệp

Mâu thuẫn có thể xuất hiện giữa lợi ích của người quản lý và của chủ sở hữu. Phát triển tổ chức và hoàn thiện cơ cấu tổ chức là việc làm tất yếu của tổ chức, công ty. Nó cũng là điều đương nhiên trong nhận thức của mọi người, chủ sở hữu, nhân viên và người quản lý. Phát triển và hoàn thiện tổ chức có thể dẫn đến việc điều chỉnh cơ cấu, sáp nhập đơn vị, bộ phận để nâng cao hiệu lực và hiệu quả của công tác tổ chức.

Lợi ích này thưởng được nhận thức rõ bởi chủ sở hữu và nhân viên, nhưng nhiều khi lại bị cản trở bởi những người quản lý để bảo vệ lợi ích cá nhân về việc làm, thu nhập và quyền lực. Khi đó, quyền lực và nguồn lực được uỷ thác càng nhiều, sự cản trở càng lớn và thiệt hại về lợi ích của chủ, của người lao động và của xã hội càng lớn. Cơ cấu tổ chức không còn là “cỗ xe” chuyên chở sứ mệnh của tổ chức, các ý tưởng kinh doanh, mong muốn của người chủ, mà trở thanh phương tiện phục vụ ý đồ của người “lái xe”.

mâu thuẫn trong doanh nghiệp


Mâu thuẫn cũng có thể nảy sinh do bất đồng lợi ích giữa người quàn lý và người lao động. Người lao động được tuyển dụng để thực hiện những công việc do người quản lý giao phó. Đổi lại, họ nhận được những lợi ích về việc làm, thu nhập, phần thưởng, cơ hội phát triển chuyên môn, nghề nghiệp và nhân cách.

Mặt khác, người quản lý được chù sở hữu giao phó việc thực hiện các trách nhiệm và được uỷ thác đủ quyền lực và nguồn lực cần thiết cho việc thực thi. Nhưng những trách nhiệm này của người quản lý sẽ được thực hiện thông qua người lao động. Để giúp họ hoàn thành tốt cồng việc, người quản lý có nghĩa vụ tạo điểu kiện và môi trường thuận lợi cho người lao động. Vấn đề đạo đức có thể nảy sinh khi người quản lý không thực hiện tốt nghĩa vụ này của mình.

Mâu thuẫn cũng có thể nảy sinh giữa người quản lý và khách hàng. Đối với khách hàng, người quản lý là đại diện cho cồng ty, tổ chức cung cấp hàng hoá và dịch vụ cho họ. Để đáp ứng tốt nhu cầu, khách hàng chấp thuận và tự nguyện cung cấp những thông tin cá nhân phục vụ cho việc cung cấp hàng hoá và dịch vụ của công ty, tổ chức.

Việc những người quản lý hay những người có được quyền tiếp xúc với các nguồn thông tin cá nhân sử dụng chúng vào những mục đích khác nhau luôn tiềm ẩn những vấn đề đạo đức. Vấn đề đạo đức còn có thể nảy sinh từ việc kiểm soát khả năng tiếp cận của những cá nhân, tổ chức không có trách nhiệm đối với nguồn thông tin sử dụng cá nhân. Những vấn đề này đều liên quan đến công tác quản lý và trách nhiệm của người quản lý.



 Đọc thêm tại:

Những vấn đề về đạo đức về tài chính

Cung cấp số liệu báo cáo sai. Một vấn đề đạo đức liên quan đến việc thông báo tình trạng tài chính hàng năm cho cổ đông, các nhà đầu tư, cơ quan giám sát của chính phủ, hoặc đối tác. Số liệu tài chính cung cấp những thống tin quan trọng đối với họ, để ra những quyết định có thể liên quan đến việc đầu tư, phát triển hay điều chỉnh những nguồn tài chính rất lớn. Việc cung cấp thông tin không chính xác, vô tình hay hữu ý, có thể được coi là lừa gạt.

Cố định giá. Định giá là một trong những vấn đề tài chính then chốt mà người quản lý chung và quản lý tài chính một công ty phải ra quyết định. Một số công ty đã quy định giá bán cho các sản phẩm của mình. Hơn nữa, họ yêu cầu Các đại lý và người tiêu thụ độc lập phải bán theo giá chỉ đạo và chỉ được giảm giá đối với những hàng hoá và vào những thời điểm do họ quy định. Những đại lý và người tiêu thụ không tuân thủ sẽ rất khó khăn trong việc hợp tác với họ. Hành động “độc tài” về giá bán của các công ty sản xuất là một biện pháp gây sức ép và gây trở ngại cho các đại lý và người tiêu thụ trong việc ra các quyết định độc lập trong kinh doanh cung như gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Sự vận hành của cơ chế thị trường bị can trở bởi nhân tố độc quyền. Các đối tác và người tiêu dùng cảm thấy bị “o ép” một cách bất công.

Định giá


Nhận thức được tầm quan trọng của mối quan hệ giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và môi trường sống, các tổ chức và cá nhân ngày càng quan tâm hơn đến việc hoàn thành trách nhiệm xã hội của các công ty. Xu thế đầu tư với ý thức xã hội cao hơn đang ngày càng được coi trọng. Nhiều nhà đầu tư cho rằng đầu tư vào những công ty làm ăn có lãi và tăng trường không còn làm cho họ hài lòng, mà họ muốn đặt các khoản đầu tư của mình vào tay những công ty có “tư cách” được xã hội đánh giá cao do không dừng lại ở việc thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ kinh tế, pháp lý, đạo đức tối thiểu mà còn có ý thức và quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề xã hội một cách tự nguyên – công ty hoạt động xã hội tích cực.

Ngày nay, các nhà đầu tư không chỉ hài lòng với phần lợi tức được chia từ một hoạt động kinh doanh, đặc biệt là những nhà đầu tư lớn rất coi trọng danh tiếng của một công ty. Họ coi đó cũng là những “hạng mục đầu tư” đáng giá vì nó không chỉ làm tăng thêm giá trị xã hội của họ mà còn làm giảm bớt rủi ro cho những khoản đầu tư kinh doanh của họ nhở thiện cảm xã hội dành cho công ty và sự trung thành của khách hàng đối với công ty.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

Mối quan hệ của kế toán với doanh nghiệp

Kế toán là một bộ phận, hoạt động chức năng quan trọng đối với mọi tổ chức. Trong các tổ chức kinh tế, doanh nghiệp, công tác kế toán càng có vai trò và vị trí quan trọng. Mặc dù đã có nhiều thay đổi trong những năm gần đây về công tác kế toán, nhờ áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực tin học, tầm quan trọng của nó vẫn không thay đổi. Trong lĩnh vực này, các vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ mối quan hệ với bên ngoài và bên trong.

Trong mối quan hệ với bền ngoài, công việc kế toán có nhiệm vụ chuẩn bị và cung cấp những thông tin, số liệu về tình trạng tài chính và hoạt động tài chính của tổ chức, công ty. Những số liệu này có thể được sử dụng cho việc tính thuế, phục vụ cho việc ra quyết định và lựa chọn đầu tư, đánh giá kết quả hoạt động của tổ chức, xác minh giá trị tài sản của công ty… Những số liệu được làm sai lệch có chủ ý có thể dẫn đến những quyết định sai lầm tai hại.

kế toán


Để hạn chế những sai lầm, nhiều quy định và văn bản pháp lý đã được định ra làm cơ sở cho việc kiểm soát chặt chẽ các hoạt động tài chính. Tuy nhiên, những người làm kế toán thiếu ý thức hoặc vô đạo đức vẫn có thể lợi dụng những khe hở trong hệ thống luật pháp để luồn lách. Vấn đề đạo đức cũng có thể xuất hiện ngay cả khi hành vi của những người làm kế toán được coi là điều chỉnh số liệu với thiện chí.

Ví dụ như tình trạng số liệu tài chính, kế toán lên xuống hàng năm là điều bình thưởng do tình trạng thị trường, cạnh tranh và chu kỳ kinh doanh của từng ngành, từng công ty. Nhưng đối với cổ đông, điều đó có thể là dấu hiệu không ổn định. Việc cổ đông không yên tâm và rút vốn có thể sẽ làm cho công ty rơi vào tình thế khó khăn. Điều chỉnh số liệu để tạm thởi làm yên lòng cổ đông là do thiện chí; nhưng việc làm đó có thể làm mất niềm tin ở họ, nếu bị phát hiện.

Trong mối quan hệ bên trong đơn vị, công việc kế toán bao gồm cả công việc chuẩn bị và cung cấp nguồn tài chính cần thiết, kịp thởi cho các hoạt động tác nghiệp. Ở nhiều tổ chức, nhiệm vụ này không được nhận thức và quán triệt một cách đúng đắn. Bộ phận tài chính của một đơn vị có thể lạm quyền và đóng vai trò ra quyết định tác nghiệp, chứ không phải là một đơn vị chức năng, về chức năng, việc phê duyệt của bộ phận chịu trách nhiệm về tài chính chỉ nhằm khẳng định tính hợp thức của các đề án tài chính và xác minh nguồn chi chứ không phải phê duyệt một quyết định của một người hay đơn vị của một cấp chức năng khác.




Quan hệ với khách hàng & người lao động

Vấn đê đạo đức có thể nảy sinh trong việc sử dụng phương tiện kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong quan hệ với khách hàng. Mâu thuẫn có thể xuất hiện trong việc áp dụng kỹ thuật mới trong việc thiết kế, chế tạo sản phẩm nhằm giảm chi phí, giá thành, nhưng có thể ảnh hưởng đến môi trường và độ an toàn do xu thế gia tăng về tốc độ đổi mới sản phẩm. Vấn đểđạo đức có thể xuất hiện trong các kỹ thuật và công nghệ quảng cáo, bán hàng. Các kỹ thuật hiện đại được sử dụng trong quảng cáo có thể làm cho các biện pháp quảng cáo phi – đạo đức trở nên tinh vi hơn, khó nhận biết hơn. Bán hàng qua mạng hay thương mại điện tử (e-commerce) có thể trở thành một cơ hội cho các hành vi lừa gạt.


  • Trong quan hệ với người lao động, các biện pháp quản lý dùng phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể giúp cải thiện điều kiện làm việc và sự phối hợp giữa các vị trí công tác, đảm bảo sự an toàn của quá trình vận hành và sức khoẻ cho người lao động. Tuy nhiên, chúng cũng có thể dẫn đến những áp lực tâm sinh lý bất lợi cho người lao động như cảm thấy bị giám sát thưởng xuyên, áp lực công việc, lo sợ mơ hồ, sự riêng tư bị xâm phạm, cưởng độ lao động gia tăng, mất tự do và tự tin. Những tác động tiêu cực này có thể không chỉ làm giảm năng suất, làm tăng tỷ lệ tai nạn, giảm chất lượng mà còn có thể dẫn đến những vụ việc liên quan đến pháp luật và bầu không khí tổ chức bất lợi,

Nhân lực

Vấn đề nhân lực không chỉ liên quan đến người lao động. Dưới giác độ quản lý và tổ chức, chúng liên quan đến việc định biên, phối hợp (quan hệ liên nhân cách) và bầu không khí tổ chức.


Nhân lực


Định biên là một chức năng của quản lý quan tâm đến những vấn đề như xác định công việc, tuyển dụng, bổ nhiệm, kiểm tra và đánh giá người lao động. Vấn đề đạo đức nảy sinh liên quan đến việc tuyển dụng và bổ nhiệm là tình trạng phân biệt đối xử. Tuyển chọn nhân lực có năng lực chuyên môn và thể chất phù hợp với đặc điểm công việc là yêu cầu chính đáng và cần thiết từ phía người sử dụng 1 %o động. Tuy nhiên, đây cũng là cơ hội cho việc phân biệt đối xử về sắc tẠc, giới, độ tuổi; thậm chí có thể bị lạm dụng vì mục đích cá nhân. Do đặc điểm tâm sinh lý của người lao động có thể rất khác nhau, một công việc có thể hoàn thành dễ dàng được đối với một số người., nhưng lại không an toàn đối với một số người khác, ví dụ những người bị bệnh tiền đình sẽ rơi vào tình trạng nguy hiểm khi làm việc ở độ cao. 


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/cac-linh-vuc-co-mau-thuan-marketing.html

Từ khóa tìm kiếm nhiều: dao duc kinh doanh, van hoa cong ty

Các lĩnh vực có mâu thuẫn Marketing

Quảng cáo có thể bị coi là vô đạo đức khi chúng được các nhà sản xuất sử dụng với chủ ý lôi kéo, ràng buộc người mua với những sản phẩm đã có sẩn. Chúng có thể tạo nên một trào lưu, hay thậm chí chủ nghĩa tiêu dùng. Các công ty khi quảng cáo thưởng là nhằm vào những đối tượng khách hàng hay thị trường mục tiêu có chủ đích. Tuy nhiên, trong thực tế rất ít công ty làm được điều này một cách có kết quả. Họ quảng cáo theo cách “bắn đạn chùm* nép gây tác động cả vôi những đối tượng không nằm trong “vòng ngắm”. Mục đích của quảng cáo thưởng ẩn dưới những hình thức rất tinh vi, khó chống đỡ và có thể làm cho người tiêu dùng trò nên lệ thuộc vào hàng hoá hoặc sản xuất. Quảng cáo đôi khi trở nên rất thô thiển, thiếu tế nhị, vô văn hoá, nó không những làm mất khiếu, thẩm mỹ tinh tế mà còn có thể gây ra những phản cảm ở người tiêu dùng tiềm năng.


Marketing


Marketingđược các công ty sử dụng để thu thập thông tin vế người tiêu dùng và khách hàng mục tiêu phục vụ việc thiết kế sản phẩm nhằm thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của họ. Marketing cũng có thể đẫn đến những vấn đềđạo đức liên quan đến việc thu thập V* sử dụng thông tin cá nhân về khách hàng, an toàn sản phẩm và bảo vệ người tiêu dùng. Vấn đề đạo đức trong marketmg có thể liên quan đến việc ràng buộc khách với sản phẩm hay với tổ chức, công ty làm cho nhu cầu tiêu dùng bị lệ thuộc va^sàn phẩm và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty một cách có chù ý. Nghiên cứu marketing cũng có thể bị lợi dụng để thu thập thông tin bí mật, hay bí mật thương mại, phục vụ cho các mục đíchkhác. Định giá và sử dụng kênh tiêu thụ cũng có thể đựng những ván đề đạo đức tiềm ân liên quan đến tiêu dùng và cạnh tranh. Cố định giá, bán phá giá hay định giá độc quyền không chỉ gây thiệt hại cho người tiêu dùng? bay cạnhtranhtrước mất mà còn về lâu dài.

Phương tiện kỹ thuật

Như trình trên, trong sản xuất và kinh doanh, mối quan hệ con người được xây dựng một trên cơ sở công nghệ, trong đó phương tiện kỹ thuật là nhân tố có vai trò quan trọng,

Phương tiện kỹ thuật được sử dụng trong cắc hoạt động và sàn xuít làm cộng cụ triển khai các hoạtđộng Và các quá trình. Phương tiện kỹ thuậtlà thành quả của những tiến bộ khoa học kỹ thuật và nghiên cứu (R&D) ứng dụng trong các lĩnh vực hoạt động sản xuất và quản lý người lao động, chúng là công cụ và phương tiện đổ nang cao năng suất, bảo chất lượng và nâng cao hiệu quả của hoạt động cung cấp hăng háivà dịch vụ. Đối với người quản lý, chúng được sử dụng làm công cụ và phương tiện để nâng cao hiệu lực, đảm bảo chất lượng và nâng cao hiệu suất của hoạt dộng quản lý (lập kế hoạch, tổ chức, định biên, điều hành, kiểm soát).


Đọc thêm tại : http://giaoducvanhoadoanhnghiep.blogspot.com/2015/06/nhung-loi-ich-bi-coi-la-phi-ao-uc.html



Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa công ty

Những lợi ích bị coi là phi đạo đức

Tình trạng tự – mâu thuẫn vé lợi ích có thể xuất hiện khí một công ty tư vấn, như Arthur Andersen LLP., vừa hoạt động với tư cách là một công ty kiếm toán độc lập cho một công ty khác như ENRON, WorldComhay Waste Management Inc., lại vừa là công ty tư vấn cung cấp dịch vụ tư vấn cho chính các công ty này.

Tiền “lót tay”, quà tặng, “trích tỷ lệ phần trăm”, “đặc lợi” là những lợi ích bị coi là phi đạo đức. Chúng được sử dụng dể tác động đến một cá nhân, tổ chức có năng lực can thiệp đến quá trình ra quyết định nhằm lái quyết định theo chiều hướng nhất định. Quyết định đó có thể mang lại lợi ích cho một đốitượng nào đó, nhưng có thể gây thiết hại cho người khác hãy về phương diện nào đó.

Fuji Heavy Industies Ltd. đã bị điều tra vì có biểu hiên đã dưa tiền hối lộ trị giá 5 triệu yên cho một thành viên nội các của chính phỏ Nhật Bản để giành quyền thực hiện một dự án nghiền cứu vé phương tiện tiếp liệu cho loại máy bay tìm kiếm và cứu hệ trên biển US-IA.

New York Life Insurance Co. đã sa thải hai nhân viên quản lý giao dịch cao cấp khi phát hiện những người này đã còng một số nhân viên giao dịch khác ở các chi nhánh đại diện, trong đó có PaineWebber Groupvà Greenwich Capital Markets, ngẩm áp dụng một cơ chế “lại quả” trong nhiều năm. Những người này đã thông đồng chia nhau một phân tiền hoa hổng lẽ ra phải trả cho nhân viên bán bảo hiểm, nhạn quà biếu, án tối, nhận vé biếu xem thể thao, đi nghỉ khỏng mất tién. Thiệt hại do hành ví này đối với NYU Co. ước tính khoảng từ 8 đến 15 tnộu đôla.


phi đạo đức


Các lĩnh vực có mâu thuẫn Marketing

Quan hệ giữa người tiêu dùng và người sản xuất được bắt đầu từ hoạt động marketing. Đo là điểm khởi đầu cho việc nhận diện, cân nhắc và lựa chọn hang hoá của người tiêu dùng và cùng là điểm khởi đầu cho việc thiết kế, tính toán va lựa chọn phương pháp, cách thức cung ứng của người sản xuất. Lợi ích của mỗi bên đều dựa vào những thông tin ban đầu này. Quảng cáo đối với người tiêu dùng và người sản xuất là rất cần thiết. Nghiên cứu thị trường cũng là vì lợi ích của cả hai bên. Tuy nhiên, các vấn đề đạo đức cũng có thể nảy sinh từ những hoạt động marketing.




Đọc thêm tại: