Kinh doanh cần đến dạo đức

Trước năm 1960:“Kinh doanh cần đến dạo đức”

      Trước năm 1960 là một thởi kỳ đầy trăn trở với những câu hỏi liên quan đến chủ nghĩa tư bản. Vào những năm 1920, ở nước Mỹ đã xuất hiện “phong trào tiến bộ”đấu tranh đòi đảm bảo cho người lao động một mức tiền công dù sống, mức thu nhập đó để đảm bảo cho việc tái sản xuất sức lao động, chi tiêu cho giáo đục, y tế và hưu trí. Các công ty được yêu cầu phải xem xét lại việc lảng giá bất hợp lý và việc sử dụng các biện pháp kinh doanh khác có thể gây tổn hại đốt “mức tiền công đủ sống” của các hệ gia đình.

      Cùng với cuộc cải cách ở những năm 1930, làn sóng phê phán các công ty trong việc gây ra những hậu quả bất lợi về kinh tế vả xã hội cũng dâng cao. Người ta yêu cầu các công ty phải hợp tác chật chẽ hơn với chính phủ để cải thiện thu nhập và phúc lợi cho dân chúng. Đến những năm 1950, những cải cách mới đã đưa trách nhiệm về môi trường trở thành vân đề đạo đức đối với các doanh nghiệp.


Đạo Đức


      Cho đến những năm 1960 các vấn đề đạo đức gắn với các hoạt động kinh doanh thưởng được thảo luận chủ yếu về mặt lý thuyết. Thông qua các tổ chức và các hoạt động tên giáo, các vấn đề đạo đức của cá nhân trong kinh doanh được đưa ra bàn cãi rất rộng rãi. Nhũng người đứng đầu các tổ chức tên giáo thưởng nêu lên những câu hỏi về những vấn để liên quan đến đạo đức như mức tiền công xứng đáng, điều kiện lao động hợp lý để mọi người suy nghĩ và hành động. Hàng loạt bài thuyết giáo về đạo đức xã hội đã nhấn mạnh đến những vấn đề về đạo đức trong kinh doanh như quyền của người lao động, mức tiền công đủsống; nhưng chủ yếu là vì lý do nhân văn hơn là vì lý do vật chất trong việc cải thiện điều kiện sống cho dân nghèo. Một số trường đại học và cao đẳng của thiên chúa giáo bắt đầu đưa vào chương trình những bài giảng về đạo đức xã hội. Những người tiên phong đã biên soạn những bài giảng về đạo đức cho các chương trình đào tạo về tên giáo và nhấn mạnh đến các vấn đề đạo đức trong các hoạt động kinh doanh. Đạo đức trong lao động theo quan điểm của những người tiên phong là khích lệ mọi người tiết kiệm, chăm chỉ và nỗ lực. Những truyền thống tên giáo như vậy đã tạo ra nền tảng cho sự phát triển trong tưởng lái của bộ môn đạo đức kinh doanh ở phương Tây. Mỗi tên giáo đều tìm cách vận dụng quan niệm về đạo đức theo cách riêng của mình không chỉ vào các lĩnh vực kinh doanh mà còn trong các lĩnh vực như nhà nước, chính trị, gia đình, cuộc sống riêng tư và nhiều lĩnh vực khác của cuộc sống.



Thể chế hoá đạo đức kinh doanh

       Cuối những năm 1980, có những thay đổi trong quan điểm của công chúng Mỹ. Thay vì coi trọng sự kiểm soát của chính phủ, dân chúng cho rằng việc tự kiểm soát bản thân của mỗi người mới là quan trọng.


      Nhiều khoản thuế quan và rào chắn thương mại được dỡ bỏ, sáp nhập công ty và chuyển hướng kinh doanh trong môi trường quốc tế ngày càng cởi mở. Nhiều trường đại học đã coi các khoá học về đạo đức kinh doanh là một môn học thiết thực để trang bị những quy tắc kinh doanh cần thiết trong một môi trường ngày càng trở nên phức tạp, ít được kiểm soát bởi các quy định của chính phủ. Trong những bối cảnh như vậy, nhiều công ty trong nước khi bắt đầu vươn ra thị trường quốc tế đều cảm thấy bị rơi vào tình trạng mắc kẹt trong mớ bòng bong về những giá trị và luật lộ, và những quy tắc hành xử quen thuộc không còn tác dụng. Trong khi các công ty được tự do hơn để ra quyết định kinh doanh, chính phủ cũng soạn thảo những hướng dẫn và quy định pháp lý để khống chế các công ty khi có hiện tượng vi phạm.

đạo đức kinh doanh


Những năm 1990: Thể chế hoá đạo đức kinh doanh ”

     Quan điểm tự – kiểm soát và tự dohoá thương mại càng được chính phủ của tổng thống Clinton ủng hệ mạnh mẽ. Tuy nhiên, Chính phủ Mỹ đã không hoàn toàn nhất quán khi hành động. Chù yếu được chú trọng là những vấn đề xã hội liên quan đến sức khoẻ, ví dụ tình trạng hút thuốc của trẻ vị thành niên dẫn đến việc cấm quảng cáo thuốc lá, cấm hình thức bán thuốc lá bằng máy tự động, câm trang trí biểu tượng của các hãng thuốc lá trong các sự kiện thể thao. Chính phủ của Clinton ủng hệ quan điểm dựa vào chính các công ty để kiểm soát hành vi sai trái và những thiệt hại có thể gây ra cho xã hội.

      Xây dựng các tiêu chuẩn và quy trình cho phép phát hiện và ngăn chặn những hành vi sai trái; (chuẩn mực hành vi);

    Phân công người trong ban quản trị cao cấp chịu trách nhiệm về các chương trình thoả ước về đạo đức; (ví dụ các vị trí như phó chủ tịch phụ trách tổ chức và nhân sự, cán bộ chuyên trách hay cố vấn cao cấp,…);

     Thường xuyên giám sát việc giao quyền ra quyết định cho những người có thiên hướng hành động bất quy tắc;

     Thông tin đáy đủ vé các tiêu chuẩn và quy trình thông qua các chương trình ị bổi dưỡng và phát hành tài liệu về đạo đức;



Đạo đức kinh doanh là một tĩnh vực mới

Những năm 1970: “Đạo đức kinh doanh là một tĩnh vực mới”

     Đạo đức kinh doanh bắt đầu trở thành một lĩnh vực khoa học vào đầu những năm 1970. Nhữnghọc giả và những nhà tư tưởng tên giáo đã đặt nền móng cho bộ môn khoa học này qua việc đề nghị rằng cần áp dụng một số nguyên tắc giáo lý nhất định đối với các hoạt động kinh doanh.

      Trên cơ sở này, các trường đại học bắt đầu viết sách và giảng dạy những vấn đề liên quan đến trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các nhà triết học bắt đầu tham gia bằng cách vận dụng các phương pháp phân tích triết học vào lý luận về đạo đức để hình thành những nguyên lý về đạo đức kinh doanh. Giới kinh doanh ngày càng quan tâm đến hình ảnh của họ trong con mắt công chúng, và khi yêu cầu của xã hội ngày càng cao, nhiều doanh nghiệp đã nhận ra rằng họ phải đối diện thưởng xuyên hơn với các vấn đề đạo đức. Sau vụ Watergate tai tiếng của chính quyền Nixon, công chúng ở Mỹ càng quan tâm nhiều hơn đến các vấn đề đạo đức. Trách nhiệm xã hội trong các hoạt động quản lý ở mọi cấp được đưa ra tranh luận nhiều hơn. Các trung tâm nghiên cứu và xử lý các vấn đề đạo đức kinh doanh được thành lập, Đạo luật Chống tham nhũng ở nước ngoài được ban hành.

Đạo đức kinh doanh


     Cho đến cuối những năm 1970, một loạt vấn đề đạo đức kinh doanh nảy sinh như hối lộ, quảng cáo lừa gạt, thông đồng/câu kết về giá, vệ sinh và an toànvsản phẩm, ô nhiễm môi trường. Dạo đức kinh dọanlĩđã trở thành một từ ngữ phổ biến và không còn là một mỹ từ sáo rỗng. Các nhà nghiên cứu tìm cách xác minh những vấn đề đạo đức và cách thức các doanh nghiệp hành động trong các hoàn cảnh tương tự. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong giai đoạn này ít quan tâm đến quá trình ra quyết định định hướng đạo đức cũng như việc xác định những tác nhân có thể gây ảnh hưởng đến quá trình ra quyết định định hướng đạo đức trong các tổ chức.

iv) Những năm 1980: Thống nhất quan điểm về đạo đức kinh doanh”

      Trong những năm 1980 các nhà nghiên cứu và thực hành đạo đức kinh doanh đã nhận ra rằng đây là một lĩnh vực đầy triển vọng. Ngày càng có nhiều đối tượng khác nhau quan tâm đến việc nghiên cứu đạo đức kinh doanh. Môn học đạo dức kinh doanh được đưa vào chương trình đào tạo của nhiều trường đại học, nhiều ấn phẩm được phát hành, hội thảo được tiến hành ở khắp nơi,… Đạo đức kinh doanh cOng trở thành chủ đề được quan tâm thưởng xuyên ở nhiều công ty lớn như GE, Chase Manhattan Corporation, GM, Caterpillar,… Nhiều hội đồng về đạo đức và chính sách xã hội được thành lập ở các công ty để tư vấn, hoạch định và thực hiện các hoạt động liên quan đến đạo đức trong kinh doanhbiến chúng một cách rộng rãi, Sáu nguyên tắc của phong trào này đã trở thành nền tảng cho những hướng dẫn soạn thảo luật đối với doanh nghiệp của Uỷ ban Lập pháp (Mỹ). Đến năm 2000, số lượng các công ty đăng ký là thành viên tăng lên đến con số bồn mươi bảy.



Đọc thêm tại:

Các vấn đề xã hội trong kinh doanh xuất hiện

Những năm 1960: “Các vấn đề xã hội trong kinh doanh xuất hiện’’

      Trong những năm 1960, xã hội Mỹ tập trung vào những vấn đề gốc rễ hơn. Những thái độ chống đối giới kinh doanh đã tìm mọi cách chỉ trích những kẻ trục lợi giấu mặt kiểm soát các khía cạnh kinh tế và chính trị của xã hội – đó là những tổ hợp công nghiệp quân sự.

      Những năm 1960 đã phải chứng kiến tinh trạng tàn phá cảnh quan ở các khu đô thị và sự gia tăng các vấn đề về sinh thái, như ô nhiễm không khí và xả chất thải độc hại và phóng xạ ra môi trường sống. Sự phát triển của “chủ nghĩa tiêu dùng” là một tất yếu do ngày càng có nhiều cá nhân, tập thể, tổ chức tìm cách bảo vệ quyền lợi bản thân với tư cách người tiêu dùng. Năm 1962, Tổng thống Mỹ đã đưa ra một “thông điệp đặc biệt về việc bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng” trong đó nêu rõ bốn quyền cơ bản của người tiêu dùng cần được bảo vệ là quyền được hưởng sự an toàn, quyền được biết, quyền được lựa chọn, và quyền được lắng nghe – trở thành phổ biến với tên gọi là “Tuyên bố về Quyền của người tiêu dùng” (Consumers’ Bill of Rights).


xã hội trong kinh doanh


      Phong trào người tiêu dùng mới được coi là bắt đầu nổi lên từ năm 1965 với việc ra đởi của cuốn Không an toàn ở mọi tốc độ (Unsale at Any Speed) của Ralph Nader phê phán ngành chế tạo xe hơi nói chung và công ty GM nói riêng đã đặt lợi nhuận của công ty và hình thức bề ngoài của sản phẩm lên trên sinh mạng và sự an toàn của người sử dụng. Kiểu xe Convaircủa GM là đối tượng bị chỉ trích trong tác phẩm của Nader. Tổ chức bảo vệ người tiêu dùng do ông lập ra đã thắng lợi khi khiếu nại đòi các nhà sản xuất xe hơi phải lắp thêm thắt lưng bảo hiểm, bảng điều khiển mềm, chốt cửa chắc chắn, gối đỡ đầu, kính chống bụi không văng mảnh, trục tay lái gấp được. Những nhà hoạt động vì người tiêu dùng cũng đã thúc đẩy việc thông qua một loạt điều luật bảo vệ người tiêu dùng như Đạo luật về thực phẩm tươi sống an toàn (1967), Đạo luật về kiểm soát phóng xạ an toàn và vệ sinh (1968), Đạo luật về nước sạch (1972) và Đạo luật về chất thải rắn độc hại (1976).

      Đầu những năm 1970 chính phủ Mỹ với chủ trương Đại xã hội (Great Society) song song với việc bành trướng chủ nghĩa tư bản quốc gia cũng đã nhấn mạnh với cộng đồng kinh doanh về trách nhiệm của chính phủ trong việc đảm bảo cho dân chúng một mức độ ổn định nhất định về kinh tế. Những hoạt động có thể dẫn đến tình trạng mất ổn định bắt đầu được coi là vô đạo đức và phạm pháp.






Từ khóa tìm kiếm nhiều: đạo đức kinh doanh, văn hóa doanh nghiệp

Sự phái triển của đạo đức kinh doanh ở Phương Tây thởi hiện đại

     Xét trong trường hợp “Huân chương – Thương hiệu”. Điều tưởng chừng hiển nhiên trên lại không thật sự được nhận thức rõ ràng như vậy. Nhiều doanh nghiệp lập kế hoạch xây dựng thương hiệu, trong đó bao gồm cả việc thiết kế huân chương (lô gô) cho mình, triển khai những chương trình quảng bá cho hình ảnh công ty (tự tên, tự phong), hướng vào việc nhấn mạnh đến những lợi ích, giá trị được cho là có thể hoặc sẽ cống hiến cho một vài đối tượng hữu quan (chủ yếu là khách hàng mục tiêu) hoặc xã hội một cách mơ hồ, bằng cách chỉ ra sự hơn thua so với các doanh nghiệp khác (đối thủ).

      Trong việc quảng bá thương hiệu, sự ghi nhận và tưởng thưởng từ phía xã hội (các đối tượng hữu quan) hầu như vắng bóng. Chính vì vậy, trong thực tế không ít trường hợp doanh nghiệp đã không chú ý đến việc thực hiện cam kết, lởi hứa của mình mà chỉ chú ý đến việc quang bá, “tô vẽ” cho hình ảnh của mình ở khắp nơi, khắp chỗ mọi lúc. Dưởng như, các hoạt động quảng bá thương hiệu của doanh nghiệp đã biến thành những “hành động tự huyễn hoặc về bản thân” của doanh nghiệp và những người trong doanh nghiệp. Người tiêu dùng, xã hội hầu như không có cơ hội để thể hiện thái độ và cảm tưởng của mình, ngoại trừ việc phản ứng khi tiêu dùng hoặc tiếp xúc với sản phẩm, dịch vụ và với doanh nghiệp.

đạo đức kinh doanh


     Vì vậy, để loại bỏ cách hiểu sai lầm này khi tác nghiệp, cần phải đưa ra một định nghĩa nữa về thương hiệu như sau: Thương hiệu lò nhữngdấu hiệu thương mại đặc trưng về một sản phẩm hàng hoá hay một tổ chức doanh nghiệp phản ánh những đặc điểm về lợi ích, giá trị, quan điểm hay phương pháp tiến hành kinh doanh của người làm ra (doanh nghiệp) hay đại diện cho chúng xét từ phương diện quan điểm, lợi ích, giá trị của những người hữu quan.

MỘT QUAN ĐIỂM TRONG QUẢN LÝ CỦA THẾ KỈ XX: NHỮNG GIẢ THUYẾT CỦA MC GREGRO VỀ CON NGƯỜI

Sự phái triển của đạo đức kinh doanh ở Phương Tây thởi hiện đại

     Mặc dù triết lý đạo đức được phát triển ở các nước phương Tây từ rất lâu, nhưng ảnh hưởng của nó trong các hoạt động kinh doanh cũng mới phát triển trong một quãng thởi gian rất ngắn. Quá trình phát triển vềđạo đức kinh doanh ở các nước Bắc Mỹ có thể chia thành 5 giai đoạn và vẫn đang tiếp tục phát triển cho đến nay. Đạo đức kinh doanh đã thay đổi rất nhanh khi hầu hết các tổ chức nhận ra những lợi thế của việc chú trọng hơn đến hành vi đạo đức trong kinh doanh và mối liên hệ giữa đạo đức kinh doanh và kết quả hoạt động về mặt tài chính.


Từ khóa tìm kiếm nhiều: dao duc kinh doanh, van hoa cong ty